CÂY DÂU TẰM VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN

Ngày đăng: 14-05-2019 09:49:34

     

     Dâu tằm là một loại cây được trồng phổ biến ở nhiều nước châu Á để lấy lá nuôi tằm. Y học cổ truyền coi dâu tằm là một cây có nhiều bộ phận được sử dụng làm thuốc nhất.

     Có thể nói dâu tằm là loại cây gắn bó thân thiết với đời sống của người nông dân Việt Nam từ thời dựng nước đến nay. Tơ tằm Việt Nam và các sản phẩm làm từ tơ tằm hiện đang là những mặt hàng có giá trị trên thị trường trong nước và trên thế giới. Những tấm vải lụa, sự kết hợp tuyệt vời của dâu và tằm, không chỉ là phương tiện đáp ứng nhu cầu ăn mặc mà còn là phương tiện thể hiện và truyền bá văn hóa từ rất lâu đời.

     Đặc biệt cây dâu tằm là một loại thảo dược quý dùng trong y học cổ truyền.

     Các bộ phận của cây dâu dùng làm thuốc gồm có:

     Lá dâu (tang diệp): có vị đắng, ngọt. Tính hàn, vào hai kinh can và phế. Tác dụng tán phong, thanh nhiệt. Dùng chữa cảm sốt, phong nhiệt, ho, nhức đầu, hoa mắt, mắt đỏ, chảy nước mắt, cao huyết áp. Liều dùng: 6 – 8 g/ ngày.

     Cành dâu (tang chi): vị đắng, ngọt. Tính bình, vào kinh can. Tác dụng trừ phong thấp. Thông lợi các khớp xương. Dùng chữa phong thấp, đau nhức, tay chân co quắp.

     Vỏ rễ cây dâu (tang bạch bì): vị ngọt, tính hàn, vào kinh phế. Tác dụng tả phế hành thủy, làm hết ho và định được cơn suyễn. Dùng chữa ho do phế nhiệt, ho ra máu, thủy thủng, bụng trướng, còn được dùng để chữa cao huyết áp, băng huyết. Liều dùng: 18g/ ngày.

     Cây mọc ký sinh trên cây dâu, tức là tầm gửi cây dâu (tang ký sinh): vị đắng, tính bình, vào hai kinh can, thận. Tác dụng bổ can, thận, mạnh gân cốt, an thai, làm xuống sữa sau sinh. Dùng chữa gân cốt đau nhức, động thai, sau khi sinh không có sữa. Liều dùng: 12 – 20g/ ngày.

     Quả dâu (tang tằm): vị ngọt, chua, tính ôn, vào hai kinh can, thận. Tác dụng bổ can, thận, dưỡng huyết trừ phong. Dùng chữa can, thận yếu, thiếu máu, suy nhược cơ thể, tiêu khát, táo bón, mất ngủ, tóc bạc sớm. Liều dùng 12 – 20g/ ngày. Người thường đi tiêu lỏng không nên dùng.

     Tổ bọ ngựa trên cây dâu (tang phiêu tiêu): vị ngọt, mặn, tính bình vào hai kinh can, thận. Tác dụng ích thận, cố tinh. Dùng chữa thận suy, di tinh, tiểu nhiều lần. Tiểu són, kinh nguyệt bế. Liều dùng: 6 – 12 g/ ngày.

     Ngoài những bộ phận chính kể trên, các bộ phận khác cũng được dùng làm thuốc như: hoa nhựa, nước (ép từ cành lá dâu), bướu ở thân cây, sâu dâu, con tằm chết khô, phân tằm. Trong sách Nam dược thần hiện của Tuệ Tĩnh có bài thuốc “Phù tang chí bảo” được lưu truyền đến nay.

     Lá dâu non (2 phần) hái lúc mặt trời chưa mọc, mang đến hồ nước chảy, rửa cho thật sạch bụi đất, phơi nắng cho khô. Mè đen (1 phần) cho vào nước xát tróc vỏ, rồi đồ chín phơi khô nhiều lần. Hai thứ này tán bột mịn, hòa với mật làm viên bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 100 viên với nước ấm vào lúc đói bụng. Theo Tuệ Tĩnh, bài thuốc này khi uống liên tục khoảng 3 tháng thì có thể thấy thân thể nổi mụn nhọt do sức thuốc đẩy ra, không nên lo ngại. Uống nửa năm trở lên sẽ làm cho khí huyết dồi dào, gân cốt khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, mịn màng, tai tỏ mắt sáng, tinh thần thư thái, kéo dài được tuổi thọ. Sách Lĩnh Nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông khi nói về quả dâu có viết:

          “Tang thầm tục gọi quả cây dâu

          Cam hàn, không độc, tả phế hầu

          Lợi thủy, yên thần, hòa ngũ tạng

          Sườn đau, thông khớp, khát dùng mau”

     Người ta thường chế quả dâu dưới các dạng sau:

     - Cao quả dâu (tang thầm cao): lấy quả dâu chín cho vào bao vải ép cho ra hết nước, đổ vào nồi nấu thành cao, cất vào lọ sạch để dùng dần. Ngày uống 1-2 lần, liền dùng 6-10g hòa với rượu hoặc với nước chín.

     - Rượu dâu: chọn quả dâu chín, rửa thật sạch đất cát, cho vào lọ thủy tinh, cứ một lớp dâu, một lớp đường trắng (2 kg dâu - 1 kg đường). Đưa bình ra phơi nắng, thời gian sau nước dâu chảy ra và lên men, uống rất ngon. Ngày dùng 20-30ml, trước bữa ăn. Ngoài ra còn chế xi rô dâu, kẹo dâu để dùng quanh năm.Tuy nhiên, khi sắc quả dâu để uống thì không nên dùng quá 20g/ ngày.

 

Nguồn: Lương Y. LƯU VĂN THI

Hội Đông y Quận Hồng Bàng – Hải Phòng

Trích từ Tạp chí Đông Y – số 430/ 2010

Chia sẻ:


Bài viết liên quan