BẢN TIN THÔNG TIN THUỐC

Ngày đăng: 16-05-2019 10:16:19

I. THÔNG TIN THUỐC & CÁCH DÙNG THUỐC

* FUMAGATE – FORT

Công thức: Mỗi gói 10g chứa:

Nhôm hydroxyd gel khô tương ứng nhôm hydroxyd                800mg

Magnesi hydroxyd                                                                    800mg

Simethicon nhũ dịch 30% tương ứng Simethicon                     100mg

  • Nhôm hydroxyd & Magnesi hydroxyd là thuốc kháng axit
  • Simethicon tạo một lớp màng bảo vệ, có tác dụng chống đầy hơi.

* Chỉ định

  • Điều trị triệu chứng viêm loét dạ dày - tá tràng cấp và mạn tính.
  • Điều trị triệu chứng tăng tiết acid dạ dày, hội chứng dạ dày kích thích.
  • Điều trị triệu chứng & dự phòng xuất huyết tiêu hóa. Trào ngược dạ dày - thực quản.

*Thận trọng khi dùng

  • Người suy thận, suy tim sung huyết, suy gan, phù, sơ gan.
  • Không dùng cho trẻ em dưới 3 tháng tuổi. Trẻ em < 1 tuổi chỉ dùng khi thật cần thiết.
  • Kiểm tra định kỳ nồng độ phosphat trong quá trình điều trị lâu dài.
  • Phụ nữ trong thời kỳ mang thai hoặc cho con bú cân nhắc khi sử dụng.

* Liều dùng

  • Người lớn: 1 gói x 2- 3 lần/ ngày.
  • Trẻ em: 1/2 gói – 1 gói x 2 – 3 lần/ngày.

 * Cách dùng

  • Có thể uống trực tiếp hoặc pha loãng với nước.
  • Uống lúc đói, hoặc sau khi ăn 30 phút đến 2 giờ, tối trước khi đi ngủ hoặc khi có triệu chứng.

* Tác dụng không mong muốn

  • Tiêu chảy, táo bón, buồn nôn.
  • Gây giảm phosphat máu, nhuyễn xương

* Tương tác thuốc

  • Không dùng đồng thời với các thuốc:
  • Kháng sinh nhóm fluoroquinolon, tetracylin, ketoconazol.
  • Digoxin, thuốc kháng thụ thể H2 & các muối sắt, các thuốc viên bao tan trong ruột

là vì có thể làm giảm hấp thu các thuốc này.

  • Do đó phải dùng cách xa 2 giờ

Nguồn. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc

 

MỘT SỐ THUỐC ANTACID CÓ TẠI BỆNH VIỆN

 

HIỂU RÕ VAI TRÒ CỦA ADRENALIN TRONG XỬ TRÍ PHẢN VỆ

Sốc phản vệ là tai biến đáng sợ nhất của thầy thuốc và bệnh nhân khi sử dụng thuốc, xảy ra đột ngột và có thể gây ngừng hô hấp – tuần hoàn, tử vong trong vòng vài phút. Do đó, khi xảy ra sốc phản vệ đòi hỏi phải xử trí nhanh chóng, kịp thời, đúng phác đồ để đảm bảo cứu sống bệnh nhân.

Sau hơn 18 năm kể từ Thông tư 08/1999 về hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ, đặc biệt là sau hướng dẫn xử trí phản vệ của Tổ chức Dị ứng Thế giới (World Allergy Organization – WAO) năm 2011, ngày 29/12/2017, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 51/2017/TT-BYT về hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, trong đó đã cập nhật những cách tiếp cận điều trị mới, đầy đủ và chi tiết hơn cho người thầy thuốc. Bài viết này nhằm mục đích làm rõ hơn nữa vai trò và cách sử dụng của adrenalin trong xử trí sốc phản vệ theo nội dung của Thông tư 51.

  1. Adrenalin là nền tảng trong điều trị sốc phản vệ

Khoản 1 Điều 6 trong Thông tư 51 đã nêu rõ: Adrenalin là thuốc quan trọng hàng đầu để tiêm bắp ngay cho người bị phản vệ khi được chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên. Câu hỏi đầu tiên đặt ra ở đây: Tại sao lại là adrenalin? Adrenalin, cùng với noreadrenalin và dopamin, là các catecholamine nội sinh được cơ thể tổng hợp từ acid amin tyrosine, với đặc tính đồng vận trên các thụ thể alpha và beta adrenergic, tuy nhiên mức độ tương tác khác nhau cũng dẫn đến những hệ quả trên lâm sàng khác nhau. Điều này sẽ được thấy rõ trong bảng so sánh sau đây.

Bảng 1. Hoạt tính trên thụ thể của các thuốc vận mạch và tăng cơ bóp

Từ bảng trên, có thể thấy adrenalin là thuốc hàng đầu để cứu sống bệnh nhân sốc phản vệ, bởi thuốc có hoạt tính trên các receptor alpha-1, beta-1 và beta-2, mang lại đáp ứng hiệu quả với các biểu hiện lâm sàng của sốc phản vệ, cụ thể như sau:

Khi so sánh với adrenalin, có thể thấy các thuốc vận mạch và tăng co bóp khác không có được đầy đủ các lợi ích lâm sàng tương tự. Phenylephrine không có tác dụng trên receptor beta. Noradrenalin thiếu hoạt tính trên receptor beta-2, không làm giãn phế quản và giảm phóng thích các chất trung gian miễn dịch. Dopamin có hoạt tính yếu trên receptor alpha-1 và beta-1, không có hoạt tính trên receptor beta-2 và tác dụng cũng biến thiên phức tạp theo liều dùng. Dobutamine và isoproterenol lại không có hoặc có tác dụng yếu trên receptor alpha-1, dù tác dụng trên beta-1 và beta-2 tương đương adrenalin.

Như vậy, với đặc tính dược lý độc nhất vô nhị, dù thiếu các nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên (điều này là tất nhiên vì không thể thử nghiệm trên đối tượng bệnh nhân sốc phản vệ do khía cạnh đạo đức), adrenalin vẫn được thống nhất là thuốc nền tảng trong xử trí sốc phản vệ. Các thuốc vận mạch và tăng co bóp khác, kể cả thuốc kháng histamin, corticosteroids,... chỉ là các thuốc bổ sung hỗ trợ, chứ không thể thay thế hoàn toàn vai trò ưu tiên hàng đầu của adrenalin.

  1. Tại sao lại sử dụng đường tiêm bắp và vị trí tiêm bắp nào là tốt nhất?

Thông tư 08/1999 trước đây khuyến cáo sử dụng adrenalin đường tiêm dưới da. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu sau đó đã làm thay đổi cách thực hành này.

Trong nghiên cứu của Simons FE và cs. (1998) trên 17 trẻ em có tiền sử phản vệ với thức ăn, dùng adrenalin tiêm bắp cho thấy nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương cao hơn và đạt được nhanh hơn so với đường tiêm dưới da (trung bình 8 phút khi tiêm bắp, so với 34 phút khi tiêm dưới da). (Biểu đồ 1)

Trong nghiên cứu tiếp theo của Simons FE và cs. (2001) trên 13 bệnh nhân nam, kết quả cho thấy khi tiêm bắp adrenalin ở vùng bắp đùi, nồng độ adrenalin huyết tương cao hơn đáng kể so với khi tiêm adrenalin với liều tương tự bằng cách tiêm bắp hoặc tiêm dưới da ở vùng cánh tay trên (vùng cơ delta). (Biểu đồ 2)

Sự khác biệt giữa đường tiêm dưới da và đường tiêm bắp có thể được giải thích là do mô dưới da có hệ thống mạch máu ít; đồng thời adrenalin có hoạt tính gây co mạch, làm giảm lưu lượng máu, do đó làm chậm sự hấp thu thuốc. Đặc tính này có thể trở nên có lợi khi cần làm chậm sự hấp thu thuốc để gây tác dụng tại chỗ, như phối hợp adrenalin và lidocain (ví dụ thuốc Medicaine 2%) trong gây tê tại chỗ.

Sự khác biệt về nồng độ giữa adrenalin tiêm bắp đùi và tiêm cơ delta dường như là do lưu lượng máu ở vùng cơ bắp đùi lớn hơn, nên thuốc được hấp thu tốt hơn. Vị trí tiêm bắp đùi tốt nhất được khuyến cáo là vùng mặt trước bên ngoài ở 1/3 giữa của đùi (anterolateral middle third of the thigh), vì đây là nơi mà độ sâu từ da đến cơ là bé nhất, đảm bảo thuốc được phân bố tốt đến hệ thống mạch máu ở cơ. Đây chính là vị trí của cơ đùi bên, hay còn gọi cơ đùi ngoài, có tên giải phẫu học là vastus lateralis (Hình 1).

Đường tĩnh mạch: Adrenalin đường tĩnh mạch chỉ nên được sử dụng khi bệnh nhân không đáp ứng với các liều tiêm bắp và phải do bác sĩ hồi sức cấp cứu có kinh nghiệm chỉ định, bởi nguy cơ cao gây các tác dụng phụ như tăng huyết áp, nhịp tim mạch, loạn nhịp tim và thiếu máu cơ tim đe dọa tính mạng. Trong một nghiên cứu của Campbell RL và cs. (2015) so sánh tỷ lệ gặp biến cố có hại trên tim mạch và quá liều adrenalin giữa đường tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp cho thấy: tỷ lệ gặp biến cố tim mạch có hại ở nhóm dùng adrenalin bolus IV là 10% so với tỷ lệ 1.3% ở nhóm dùng adrenalin IM (OR 8.7, P=0.006). Tương tự, quá liều xảy ra ở nhóm dùng adrenalin bolus IV là 13.3% so với tỷ lệ 0% ở nhóm dùng adrenalin IM (OR 61.3, P<0.001). Do vậy, cần phải rất thận trọng khi sử dụng adrenalin đường tĩnh mạch.

Như vậy, những thông tin cung cấp trong bài viết hy vọng sẽ phần nào giúp người đọc hiểu rõ thêm vai trò và cách sử dụng adrenalin trong xử trí phản vệ, những nội dung vốn chưa được đề cập đầy đủ trong khuôn khổ của Thông tư 51/2017.

Nguồn. Nhịp cầu dược lâm sàng

III. THÔNG TIN CẢNH GIÁC DƯỢC

  1. Cảnh báo: Chế phẩm dùng cho bệnh nhân tiểu đường bị trộn lẫn chất bị cấm phenformin và có thể gây tử vong cho người bệnh

Ngày 20/02/2019, Trung tâm DI&ADR Quốc gia đã ghi nhận 01 báo cáo ADR về một bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng và tử vong sau quá trình sử dụng thuốc Tiểu đường hoàn bị trộn lẫn phenformin. Phenformin là một thuốc điều trị đái tháo đường nhưng không còn được cấp phép lưu hành tại nhiều nước trên thế giới và Việt Nam do nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa, thậm chí gây tử vong. Tuy nhiên, hiện nay phenformin vẫn bị sử dụng để trộn vào các chế phẩm y học cổ truyền lưu hành bất hợp pháp ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

 Ngày 20/02/2019, Trung tâm DI&ADR Quốc gia đã ghi nhận 01 báo cáo ADR về bệnh nhân nhiễm toan lactic, sau đó dẫn đến sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng và tử vong. Khai thác tiền sử dùng thuốc cho thấy bệnh nhân đã sử dụng thực phẩm chức năng Tiểu đường hoàn trong vòng 3 năm gần đây. Kêt quả kiểm nghiệm cho thấy viên Tiểu đường hoàn có trộn thêm phenformin là một dược chất không được cấp phép lưu hành.

Tại Việt Nam, phenformin không được cấp phép lưu hành mà được trộn vào các thuốc y học cổ truyền không rõ nguồn gốc và thành phần. Vào năm 2018, một bệnh viện cũng đã ghi nhận 3 bệnh nhân nhập viện trong tình trạng nặng như nhiễm toan máu và suy đa tạng. Các bệnh nhân này sau đó đều được chẩn đoán toan chuyển hóa do ngộ độc phenformin/ Đái tháo đường tuýp 2 [5]. Trong năm 2018, Cục Quản lý Y Dược Cổ truyền - Bộ Y tế cũng đã có công văn 554/YDCT-QLD về việc thu hồi với chế phẩm “Viên thuốc màu xám” dùng điều trị bệnh tiểu đường dựa trên kết quả kiểm nghiệm cho thấy mẫu thử dương tính với phenformin [1].  

Phenformin bắt đầu được lưu hành trên thế giới cho điều trị đái tháo đường vào năm 1957. Những báo cáo ADR đầu tiên của thuốc này được ghi nhận lần đầu vào năm 1963. Kể từ năm 1970, do liên quan đến việc gây nhiễm toan chuyển hóa (và đã ghi nhận các ca tử vong), thuốc đã bị thu hồi ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, New Zealand, Brazil, Ethiopia, 15 nước ở Châu Âu và 6 nước ở Châu Á [3]. 

Mặc dù tất cả các thuốc nhóm biguanid đều có thể gây ra nhiễm toan lactic, phenformin được cho là thuốc có nguy cơ gây phản ứng cao nhất. Tần suất xảy ra phản ứng khi sử dụng metformin từng được ghi nhận tại Thụy Sỹ và Thụy Điển lần lượt là 0,067 và 0,084 ca/1000 bệnh nhân-năm, trong khi tần suất với phenformin cao hơn khoảng 8 - 10 lần [2]. Bên cạnh đó, nhiễm toan lactic thường bị chẩn đoán nhầm và do vậy không được xử trí kịp thời, đặc biệt trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi do bị nhiễu bởi nhiều bệnh lý khác nhau [4]. 

Tình trạng thuốc đông dược giả với những thành phần không rõ ràng vẫn được ghi nhận ở nhiều nơi trên thế giới. Nguy cơ liên quan đến việc sử dụng các loại thuốc điều trị đái tháo đường có trộn thêm phenformin là rất lớn, gây ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát bệnh đái tháo đường do không rõ liều lượng các thuốc giả mạo và việc sử dụng không được giám sát. Việc tăng cường lấy mẫu và kiểm nghiệm các thuốc đông dược có mặt trên thị trường là cần thiết để hạn chế vấn nạn trên. Ngoài ra, những biện pháp tuyên truyền cho cộng đồng cũng đóng vai trò rất quan trọng. Người bệnh có mong muốn sử dụng thuốc đông dược để điều trị đái tháo đường cần được tư vấn bởi những người có chuyên môn về y dược học cổ truyền thay vì tự ý sử dụng các thuốc đông dược không rõ nguồn gốc xuất xứ. Các bác sĩ cũng cần nhận thức rõ về vấn đề này để khai thác kỹ tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân và phát hiện sớm các trường hợp gặp phản ứng với phenformin [4].

                                                            Nguồn. Trung tâm DI & ADR Quốc gia

  1. HSA: Thiamazol (methimazol) - phát hiện thêm nguy cơ viêm tụy cấp và cập nhật thêm về nguy cơ dị tật bẩm sinh

Merck thông báo tới các cán bộ y tế về việc phát hiện thêm nguy cơ viêm tụy cấp và cập nhật thêm thông tin về nguy cơ dị tật bẩm sinh do sử dụng carbimazol hoặc thiamazol. 

 Merck thông báo tới các cán bộ y tế về việc phát hiện thêm nguy cơ viêm tụy cấp và cập nhật thêm thông tin về nguy cơ dị tật bẩm sinh do sử dụng carbimazol hoặc thiamazol.

 Các trường hợp viêm tụy cấp sau khi điều trị bằng carbimazol hoặc thiamazol đã được báo cáo. Nếu bệnh nhân mắc viêm tụy cấp, cần ngay lập tức ngừng sử dụng các thuốc này. Do tái sử dụng thuốc có thể gây tái phát viêm tụy cấp và tăng nguy cơ tử ong, tuyệt đối không chỉ định các thuốc này với các đối tượng bệnh nhân có tiền sử viêm tụy cấp do thuốc.

 Ngoài ra, các nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu và các nghiên cứu dịch tễ học đã tìm ra bằng chứng chứng minh sử dụng các thuốc này làm gia tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh, đặc biệt khi dùng trong ba tháng đầu thai kì ở liều cao. Khi sử dụng carbimazol hoặc thiamazol trong giai đoạn mang thai cần theo dõi chặt chẽ sản phú, thai nhi và trẻ sơ sinh

                                                     Nguồn. Trung tâm DI & ADR Quốc gia

  1. MHRA: Kháng sinh Fluoroquinolon - hạn chế chỉ định và biện pháp phòng ngừa mới do ghi nhận báo cáo về các tác dụng phụ gây tàn tật, kéo dài và không hồi phục

Sử dụng fluoroquinolon có thể gây ra phản ứng có hại gây tàn tật, kéo dài và không hồi phục gây ảnh hưởng đến hệ thống cơ xương - thần kinh. Tuy những phản ứng này chỉ xuất hiện với tần xuất rất nhỏ nhưng lại để lại hậu quả nặng nề cho người bệnh. Vì vậy, MHRA khuyến cáo ngừng điều trị bằng fluoroquinolon nếu thấy các dấu hiệu đầu tiên của các phản ứng có hại nghiêm trọng, trong đó có đau gân và viêm gân.

 Khuyến cáo của MHRA cho cán bộ y tế:

- Fluoroquinolon dùng toàn thân (đường uống, tiêm, khí dung) hiếm khi gây ra tác dụng phụ kéo dài (vài tháng hoặc nhiều năm), gây tàn tật và không hồi phục, ảnh hưởng đến nhiều hệ thống, cơ quan, giác quan. Tuy nhiên MHRA đã ghi nhận những báo cáo case như vậy và khuyến cáo  cán bộ y tế cần thận trọng và tư vấn kỹ cho bệnh nhân khi sử dụng thuốc.

 - Khuyến cáo bệnh nhân nên ngừng điều trị nếu thấy những dấu hiệu đầu tiên của một phản ứng có hại nghiêm trọng như viêm gân, đứt gân, nhược cơ, đau khớp, sưng khớp, viêm dây thần kinh ngoại biên, bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương. Liên hệ ngay với bác sỹ để được tư vấn thêm.

 - Không kê đơn fluoroquinolon khi bệnh nhân không nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn không nghiêm trọng hoặc tự giới hạn, nhiễm khuẩn nhẹ đến trung bình (như trong đợt cấp viêm phế quản mạn tính và đợt cấp COPD) trừ khi những kháng sinh khác không có hiệu quả.

 - Không kê đơn ciprofloxacin và levofloxacin cho viêm bàng quang chưa có biến chứng trừ khi những kháng sinh khác không có hiệu quả.

 - Đặc biệt thận trọng khi kê đơn fluoroquinolon cho bệnh nhân trên 60 tuổi, bệnh nhân suy thận hoặc ghép tạng do nguy cơ tổn thương gân cao hơn những bệnh nhân khác.

 - Không dùng corticoid kèm với một thuốc fluoroquinolon vì việc dùng đồng thời hai loại thuốc này có thể làm trầm trọng thêm triệu chứng viêm gân, đứt gân do fluoroquinolon.

Hạn chế chỉ định:

- Kháng sinh fluoroquinolon được chỉ định cho các bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng.

- Dựa trên đánh giá về độ an toàn của thuốc trong khu vực EU, những hạn chế mới trong chỉ định của kháng sinh fluoroquinolon ở Anh đã được công bố. Cán bộ y tế trước khi kê đơn cần tham khảo tờ Tóm tắt Đặc tính Sản phẩm của các thuốc sau: Ciprofloxacin (Ciproxin), Levofloxacin, Moxifloxacin (Avelox), Ofloxacin (Tarivid)

- Acid nalidixic trước đây được chỉ định cho nhiễm trùng đường niệu, hiện nay chỉ định này không được cấp phép.

- Không nên kê đơn fluoroquinolon để điều trị nhiễm trùng nhẹ đến trung bình (như đợt cấp viêm phế quản mạn tính hay đợt cấp COPD) trừ khi những kháng sinh khác thường được khuyến cáo cho các bệnh nhiễm trùng này không phù hợp (bệnh nhân kháng kháng sinh ưu tiên hàng đầu, hoặc kháng sinh ưu tiên hàng đầu gây tác dụng phụ dẫn đến ngừng điều trị, hoặc khi kháng sinh ưu tiên hàng đầu chống chỉ định trên một cá nhân, hoặc khi điều trị bằng kháng sinh hàng đầu thất bại).

Đặc điểm của các phản ứng có hại đã được báo cáo và khuyến cáo hướng xử trí nếu xuất hiện viêm gân

- Các tác dụng phụ nghiêm trọng được báo cáo gồm: viêm gân, đứt gân, đau khớp, đau đầu chi, rối loạn dáng đi, bệnh thần kinh liên quan đến dị cảm (cảm giác nhột nhạt, châm chích như bị kiến bò), trầm cảm, mệt mỏi, suy giảm trí nhớ, rối loạn giấc ngủ, giảm thính giác, thị giác, vị giác và khứu giác. Trong các tác dụng phụ về hệ thống cơ xương thì viêm gân, đứt gân được báo cáo nhiều nhất; trong các tác dụng phụ về hệ thống thần kinh thì dị cảm được báo cáo nhiều nhất.

 - Tổn thương gân, đặc biệt là gân Achilles có thể xuất hiện trong vòng 48 giờ sau khi bắt đầu điều trị bằng fluoroquinolon nhưng các dấu hiệu và triệu chứng của các phản ứng có hại khác có thể xuất hiện vài tháng sau khi đã ngừng điều trị.

 - Ngay khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của viêm gân (VD: sưng đau, nhiễm trùng), nên ngừng điều trị fluoroquinolon và xem xét các biện pháp thay thế. Không nên sử dụng corticoid nếu có dấu hiệu viêm gân.

Thận trọng khi kê đơn fluoroquinolon trên những bệnh nhân có nguy cơ cao

Bệnh nhân trên 60 tuổi, bệnh nhân suy thận hoặc đã ghép tạng, bệnh nhân đang điều trị bằng corticoid là những đối tượng có nguy cơ cao tổn thương gân. Tránh dùng đồng thời fluoroquinolon và corticoid vì có thể làm tăng nguy cơ viêm gân, đứt gân.

Hướng dẫn kê đơn

Cán bộ y tế cần tham khảo các hướng dẫn chính thức về cách sử dụng kháng sinh phù hợp như Hướng dẫn kiểm soát các nhiễm khuẩn thông thường (trong đó có nhiễm trùng đường hô hấp trên/dưới và nhiễm trùng đường niệu) của NICE và Tổ chức Y tế công cộng Anh.

Nguồn. Trung tâm DI & ADR Quốc gia

  1. CÁC THUỐC ĐÌNH CHỈ LƯU HÀNH
  2. Đình chỉ lưu hành toàn quốc Chymomedi (Chymotrypsin 21 microkatals),
    SĐK: VD-25331-16, số lô: 254418; NSX: 21/8/2018; HD: 20/8/2020 do Công
    ty cổ phần Dược Trung ương Mediplantex sản xuất.

Lý do: thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu Định lượng

( theo CV 884 cục Quản lý Dược, ngày 24/01/2019)

  1. Đình chỉ lưu hành toàn quốc tất cả các lô thuốc Pneumorel (Fenspiride
    hydrochloride 80mg) do Công ty Les Laboratories Servier sản xuất, Công ty CP
    dược liệu Trung ương 2 (Phytopharma) nhập khẩu.

Lý do: có nguy cơ gây rối loạn nhịp tim của người sử dụng

(theo CV 1784 cục Quản lý Dược, ngày 15/02/2019)

  1. Đình chỉ lưu hành tất cả các lô thuốc Fenspirol (Fenspiride hydrochloride 2 mg/ml) do Công ty Polfannex S.A. sản xuất, Công ty cổ phần dược phẩm Trung ương 1 - Pharbaco nhập khẩu.

Lý do: nguy cơ gây rối loạn nhịp tim của người sử dụng

(theo CV 1969 cục Quản lý Dược, ngày 25/02/2019)

  1. Đình chỉ lưu hành thuốc viên nén bao phim giải phóng kéo dài Diuresin
    SR (Indapamide l,5mg), SDK: VN-15794-12, So 16: 010118, HD: 150120 do
    Công ty Polfarmex S.A (Poland) sản xuất, Công ty cổ phần dược phẩm Trung
    ương CPC1- Chi nhánh Tp. HCM nhập khẩu.

Lý do: thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu do hòa tan sau 12h.

(theo CV 3828 cục Quản lý Dược, ngày 23/03/2019)

* Cục Quản lý Dược VN (DAV): Rút số đăng ký lưu hành một số thuốc

Ngày 22/03/2019, Cục Quản lý Dược đã có Quyết định số 177/QĐ-QLD về việc rút số đăng ký lưu hành một số thuốc. 

Lý do: Cơ sở đăng ký thuốc tự nguyện đề nghị rút số giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam. 

Theo đơn đề nghị rút số đăng ký lưu hành tại Việt Nam của một số đơn vị đăng ký thuốc, Cục Quản lý Dược đã có Quyết định số 177/QĐ-QLD ngày 22/03/2019 rút số đăng ký của các thuốc sau:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc
  2. Nguồn nhịp cầu dược lâm sàng
  3. Nguồn Trung tâm DI & ADR Quốc gia
  4. Trang Web Cục quản lý dược – BYT

           

                                                            Tổ Thông tin thuốc – dược lâm sàng

                                                            Khoa Dược – BVĐK tỉnh Sóc Trăng

Chia sẻ:


Bài viết liên quan